Vì sao thêm máy không làm tăng sản lượng tấm sắt

Cập nhật

Thêm máy chế tạo là phản ứng hợp lý khi thiếu tấm sắt. Nhưng cách này chỉ giúp ích khi các máy đó nhận đủ thỏi sắt. Lò luyện cũng cần được cấp đủ quặng. Công suất máy, nguồn cấp thực sự đến nơi, khả năng vận chuyển của băng tải dùng chung và đường ra khỏi nhà máy đều ảnh hưởng đến kết quả. Hãy tìm giai đoạn không thể chuyển lượng vật liệu cần thiết trước khi mở rộng phần còn lại của dây chuyền.

Tính ngược từ tấm sắt về quặng

Trong quy trình tiêu chuẩn xét ở đây, một lò luyện dùng 30 quặng mỗi phút và tạo 30 thỏi mỗi phút. Một máy chế tạo dùng 30 thỏi mỗi phút và tạo 20 tấm mỗi phút. Vì vậy, mỗi tấm cần 1,5 thỏi và 1,5 quặng. Nhân mục tiêu tấm với 1,5 để tìm lượng cần đi qua hai giai đoạn trước. So sánh trực tiếp số quặng với số tấm sẽ bỏ qua phép chuyển đổi này.

Mục tiêu 80 tấm mỗi phút cần 120 thỏi và 120 quặng mỗi phút. Bốn lò luyện có thể cung cấp lượng thỏi đó, còn bốn máy chế tạo có thể tạo các tấm. Đây là phép tính công suất. Lắp máy không chứng minh mọi máy đều nhận đủ đầu vào hoặc đầu ra luôn thông suốt.

Vì sao mục tiêu 81 làm đổi số máy

Tấm tiếp theo cần hệ thống lớn hơn khi các máy vẫn được tính ở tốc độ 100%. Mục tiêu 81 cần 121,5 quặng và 121,5 thỏi mỗi phút, vượt công suất 120 thỏi của bốn lò luyện. Bốn máy chế tạo cũng chỉ đạt 80 tấm mỗi phút. Làm tròn số máy cần thiết lên cho kết quả năm lò luyện và năm máy chế tạo.

Hệ thống đó không phải lúc nào cũng tạo 100 tấm mỗi phút. Nếu chỉ có 121,5 quặng đến nơi, giới hạn theo nguồn cấp là 81 tấm. Với 150 quặng đến nơi và vận chuyển đủ, quy trình đã lắp có thể đạt giới hạn công suất 100. Phân biệt nguồn cấp cần cho mục tiêu với nguồn cấp để mọi máy hoạt động liên tục. Máy chờ có thể phản ánh lượng cấp đã chọn, không phải tính sai số máy.

Băng tải đầu ra đủ vẫn có thể che giấu nút thắt phía trước

Giả sử mỗi giai đoạn dùng một băng tải chung có công suất 120 vật phẩm mỗi phút. Mục tiêu đầu ra 81 tấm nằm trong khả năng băng tải đó. Nhưng giai đoạn quặng và thỏi đều phải chuyển 121,5 vật phẩm mỗi phút. Giới hạn 120 ở một trong hai giai đoạn trước sẽ chặn quy trình tiêu chuẩn ở mức 80 tấm mỗi phút. Chỉ nâng cấp băng tải đầu ra không loại bỏ hạn chế đó.

Dùng băng tải 270 vật phẩm cho những đoạn dùng chung cần thiết sẽ loại bỏ giới hạn vận chuyển tại mục tiêu này. Việc đó không tạo thêm quặng. Nếu nguồn cấp vẫn là 120, giới hạn tấm vẫn là 80. Nguồn cấp và vận chuyển là hai thay đổi riêng. Với 150 quặng, vận chuyển đủ và năm máy ở mỗi giai đoạn, công suất đã lắp đạt 100 tấm mỗi phút. Đây là giới hạn tính toán ở trạng thái ổn định, không phải phép đo hoặc lời hứa cho một nhà máy cụ thể.

Kiểm tra dây chuyền theo thứ tự hữu ích

Trước tiên, so sánh lượng quặng cần với lượng thực sự đến quy trình này. Công suất máy khai thác không đủ làm bằng chứng nếu tuyến đó còn cấp cho nơi khác. Sau đó, kiểm tra riêng số lò luyện và máy chế tạo. Tiếp theo, xem mọi đoạn vận chuyển dùng chung, kể cả đoạn nối ngắn. Thay phần lớn băng tải không loại bỏ đoạn chậm còn trên đường đi.

Kiểm tra việc phân phối sau các nhánh. Tổng đầu vào đủ không chứng minh mọi máy đều nhận đủ vật liệu. Xem đường ra sản phẩm và kho hoặc nơi tiêu thụ phía sau. Máy chế tạo dừng vì đầu ra đầy cần cách xử lý khác với máy đang chờ thỏi. Cuối cùng, phân biệt mất điện và giai đoạn khởi động với sản xuất ổn định.

Bố trí quy trình để dễ kiểm tra và mở rộng

Bố trí theo khái niệm đi từ quặng vào, luyện, chuyển thỏi, chế tạo đến tấm ra. Tách các giai đoạn và giữ các tuyến chuyển vật liệu chính dễ theo dõi. Nhờ đó có thể tìm đầu vào trống và đầu ra tích tụ dễ hơn. Chừa chỗ cải thiện vận chuyển hoặc tuyến cấp riêng, bên cạnh chỗ cho máy bổ sung.

Đây là nguyên tắc sơ đồ quy trình, không phải bản thiết kế có kích thước nền móng đã được xác minh. Cần kiểm tra trong trò chơi không gian có sẵn, kết nối giữa các độ cao và ảnh hưởng đến dây chuyền khác. Mục đích là xác định giai đoạn nào phải thay đổi khi mục tiêu sản lượng đổi.

Kiểm tra kết quả sau thay đổi

Ghi lại mục tiêu, quặng đến nơi, công suất băng tải và số máy trước khi thay đổi nhà máy. Sửa một giới hạn đã tìm thấy, rồi quan sát dây chuyền sau khi vật liệu đến máy và quy trình ổn định. Nếu đầu ra vẫn thấp hơn giới hạn tính toán, kiểm tra tình trạng chờ đầu vào, tắc đầu ra và điện trước khi tăng công suất dự kiến lần nữa. Thay đổi tồn kho trong thời gian ngắn không chứng minh sản lượng mỗi phút ổn định.

Các câu hỏi chính là quặng cần thiết có đến nơi không, mỗi giai đoạn có chuyển đủ lượng cần thiết không và máy đã lắp có biến lượng đó thành tấm không. Trả lời theo thứ tự này giúp chọn cách xử lý thay vì thêm máy tùy ý. Công thức thay thế, thay đổi tốc độ, tăng sản lượng và hệ số tùy chỉnh cần phép tính mới theo điều kiện riêng.